QUẺ SỐ 7 – ĐẠI CÁT
TRIỆU
Bạt thập đắc ngũ.
DỊCH
Làm mười đạt năm.
TỔNG THI
Xuân quang ngâm vịnh bất thăng đề,
Nhật chiếu Thần san ảnh vị đê,
Thạc quả kỷ hồi lưu bất thực,
Thái mao hạ sự xuất trường đê!
DỊCH
Trời xuân ngâm vịnh dạt dào thơ,
Ác ngả Thần sơn ánh chửa mờ,
Quả chín bấy lâu dành đợi đó,
Thái mao lo phải chốn xa chừ!
CHÚ GIẢI
TỰ THÂN GIA TRẠCH: Công gia vô dạng.
Ý nói: Già trẻ mạnh khỏe, gia môn khang cát.
CẦU QUAN CẦU TÀI: Xa tái dẩu lượng (lấy xe chở, lấy đấu đong).
Ý nói: Việc cầu quan, cầu tài đều thắng lợi vô kể.
HÔN NHÂN: Cầu chi tất đắc (cầu được như ý muốn).
Ý nói: Đánh tiếng là được, không sợ bị từ chối, cũng không gặp sự ngăn trở hay khó khăn gì.
LỤC GIÁP: Yên sơn ngũ quế (Năm gốc quế nhà Đậu Yên-sơn).
Ý nói: Sinh nhiều con trai, sau này đều hiển đạt.
PHONG THỦY: Tất đắc kỳ trung.
Ý nói: Mộ phần đặt đúng huyệt, đất tốt, hình thổ đẹp.
QUAN TỤNG: Thừa thắng tràng khu.
Ý nói: Việc kiện tụng đại thắng.
TẬT BỆNH: Tử tôn phùng cát.
Ý nói: Gặp thầy, gặp thuốc tốt, bệnh sẽ chóng khỏi.
HÀNH NHÂN THẤT VẬT: Kim ngã lai tư.
Ý nói: Người đi xa và của mất sẽ có tin tức đem về.
LỤC SÚC ĐIỀN TẦM: Thái bình hữu tượng.
Ý nói: Súc vật và hoa màu không bị phá hoại, thảy đều hưng vượng.
TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN
Quẻ này ứng triệu “làm mười được năm” – tức là người biết làm điều hiền, biết chọn đường hay, nên có kết quả tốt.
Trong thơ tổng vịnh có câu: “Quả chín bấy lâu dành để đó” – ý nói âm công của ông bà, tổ tiên còn để lại cho con cháu hưởng, nên hiện tại mọi việc đều vững vàng, tài lộc cũng tiến đều.
Trong quẻ có chữ “đắc ngũ” ứng vào tháng 5, thời vận rất tốt. Lại có chữ “bạt thập” ứng vào tháng 10 cũng sẽ có việc thắng lợi đưa đến.