QUẺ SỐ 39 – HẠ HẠ
TRIỆU
Khử thảo trừ căn
DỊCH
Nhổ cỏ đào rễ
TỔNG THI
Ma nghĩ tuần hoàn hợi, tý trung,
Tài lang chí khí bán tây, đông,
Phương tâm trực đãi xuân lai hậu;
Chí khủng đương thu vận vị thông.
DỊCH
Kiến bò thớt cối ngược đương xoay,
Chí định về đông lại hóa tây,
Lòng những mong chờ xuân ấm tới,
Chỉ e không thoát khỏi thu này!
CHÚ GIẢI QUẺ SỐ 39
TỰ THÂN – GIA TRẠCH
Linh nhập phong sào, ý nói: Gia đình có con cái riêng tay xen vào nên lục đục không yên.
CẦU QUAN – CẦU TÀI
Thế giang dũ hạ, ý nói: Cầu quan cầu tài mỗi ngày mỗi xuống, không phấn chấn được.
HÔN NHÂN
Nữ trinh bất tự, ý nói: Việc hôn nhân không xong vì cô gái không bằng lòng.
LỤC GIÁP
Phi ngã tộc loại, ý nói: Con cái sợ có sự lộn giống khác.
PHONG THỦY
Hà thủ ưu thủy, ý nói: Cục đất có nước minh đường rếch.
QUAN TỤNG
Hồng tắc la chi, ý nói: Việc quan tụng e bị mắc vào khó gỡ.
TẬT BỆNH
Như cụ tư thoát, ý nói: Ốm đau có phước lắm mới khỏi.
HÀNH NHÂN – THẤT VẬT
Hà kỳ nhu trệ, ý nói: Người đi xa và của mất vẫn chưa có tin tức gì.
LỤC SÚC – ĐIỀN TẦM
Thu đông túc sát, ý nói: Việc chăn nuôi và việc trồng cấy mỗi ngày một mòn mỏi đi.
TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN
Quẻ này ứng triệu “Nhổ cỏ đào rễ” là chỉ thời vận cực xấu, dù có tài cũng khó mà tiến được, khác nào như con kiến bò trên thớt cối đương xoay: kiến bò đang sang đông, cối xoay sang tây; kiến bò chậm, cối xoay nhanh, thành ra kiến tiến mà hóa lùi.
Thời vận: Ai xin được quẻ này phải đợi hết mùa thu (các tháng 7, 8, 9) mới mong hết vận xấu, sang mùa đông họa may có thay đổi chăng. Còn muốn tốt phải đợi sang xuân.