TRIỆU
Hòa thần đương xuân.
DỊCH
Mùa xuân thần thái ôn hòa.
TỔNG THI
Nhất điểm xuân tình mạt phấn hoa,
Tầm phương khách diệc phỏng Đông A
Thế nhân mạc thức dư tâm lạc,
Tiếu chỉ sơn đầu lạc bút (1) kha.
DỊCH
Một điểm tình xuân rải phấn hoa,
Khách tìm thơm lại hỏi nơi ta,
Người đời không biết, ta vui bảo:
Kìa “bút đầu non” được trổ (1) ra.
CHÚ GIẢI
TỰ THÂN GIA TRẠCH: Dữ dân giai lạc.
Ý nói: Thân thế ung dung, gia đình thuận hòa, mọi người đều vui vẻ.
CẦU QUAN CẦU TÀI: Đắc môn nhi nhập.
Ý nói: Cầu quan, cầu tài, thi cử có quý nhân giúp đỡ, mưu vọng ắt thành.
HÔN NHÂN: Đào chi yêu yêu.
Ý nói: Việc hôn nhân kịp thời đúng lúc, rất tốt lành.
LỤC GIÁP: Bắc lý mộng lan.
Ý nói: Triệu sinh con trai, ngày sau có sự nghiệp lớn.
PHONG THỦY: Bất khả bạt giả.
Ý nói: Mộ phần yên, không nên bốc đi nơi khác.
QUAN TỤNG: Ngư thủy tương phùng.
Ý nói: Việc kiện có thể như cá gặp nước, kết quả tốt.
TẬT BỆNH: Khắc đăng thượng thọ.
Ý nói: Sức khỏe bền bỉ có thể sống lâu, dù có bệnh gì cũng qua khỏi.
HÀNH NHÂN THẤT VẬT: Bất thất kỳ thường.
Ý nói: Người đi sẽ về, của mất lại thấy.
LỤC SÚC ĐIỀN TẦM: Nhất lộ phúc tinh.
Ý nói: Hai việc chăn nuôi, làm ruộng đều có phúc tinh phù trợ, nên được nảy nở thịnh vượng.
TỔNG ĐOÁN THỜI VẬN
Quẻ này ứng triệu “mùa xuân thần thái ôn hòa” – các việc mưu vọng đều tốt, khác nào cây non gặp thời trổ mạnh, nhựa xuân ăm ắp mạch sống chứa chan. Tuy nhiên, chữ “hòa” đứng làm chủ, nên mọi việc đều dựa trên nền tảng ôn hòa mới đạt kết quả viên mãn.
THỜI VẬN
Mùa xuân (tháng 1, 2, 3): vượng
Mùa hạ (tháng 4, 5, 6) và mùa thu (tháng 7, 8, 9): bình
Mùa đông (tháng 10, 11, 12): kém hơn ba mùa kia
CHÚ THÍCH
(1) “Búp đầu non” chỉ chữ “triệt” giống chữ “sơn” khi nét sổ giữa được kéo dài ra.